VIÊM AMIDAN , KHI NÀO CẦN CẮT?
Amidan
là những tế bào lympho để bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
Amidan cũng là nơi sản xuất kháng thể IgG rất cần thiết trong miễn dịch. Amidan
là hàng rào miễn dịch vùng họng miệng, hoạt động mạnh từ 4-10 tuổi, sau đó đến
tuổi dậy thì mức độ miễn dịch của amidan giảm rõ và không còn hoạt động mạnh
nữa.
Khi
vi khuẩn ồ ạt xâm nhập và tấn công mũi họng, amidan phải chống lại, vượt quá
mức sẽ xảy ra tình trạng bị viêm sưng, đỏ. Hậu quả của sự tập trung tiêu diệt
vi khuẩn tại amidan thường để lại xác vi khuẩn và xác bạch cầu, mô hoại tử
thành các cục mủ rất hôi, lâu lâu rớt ra khỏi amidan. Khi amidan bị viêm nhiều
lần, khả năng chống vi khuẩn bị yếu đi, do chính các ổ viêm nằm trong amidan,
lại là nơi khởi phát cho những đợt viêm vùng họng. Viêm amidan chiếm tỷ lệ cao
ở trẻ em, thường do vi khuẩn gây ra.
Dấu hiệu nhận biết viêm amidan sớm nhất?
Khô họng, hơi thở có mùi: Do các vi khuẩn tích tụ trong hố amidan và các
dịch mủ tồn đọng trong hố amidan gây tắc nghẽn và thường đi kèm với một số
triệu chứng như hơi thở có mùi, khô họng, ngứa họng, cảm giác họng có dị vật.
Amidan phì đại: Thường gặp ở trẻ em và có một số triệu chứng như khó khăn trong
việc nuốt, giọng nói không rõ ràng, hệ hô hấp không thông thoát hoặc ngáy khi
ngủ. Nếu như amidan phì đại quá mức có thể gây ra việc rối loạn cộng hưởng hơi
thở, tiếng nói và việc nuốt.
Biểu hiện toàn thân: Amidan và vòm miệng cuống lưỡi có hiện tượng xuất huyết,
trong hốc miệng có thấy những chấm mủ trắng, hoặc vàng. Bệnh nhân có hạch bạch
huyết trong cổ, đặc biệt là hạch bạch huyết ở thành sau hàm dưới đỏ và sưng to
và đau. Lượng tế bào bạch huyết tăng đáng kể.
Phản ứng phụ gây hại toàn cơ thể: Khi bị viêm amidan, các chất dịch tiết ra và
đi xuống dạ dày, từ đó các độc tố tiết ra được hấp thụ và gây phản ứng phụ toàn
thân như: sốt, khó tiêu hóa, chán ăn, mệt mỏi, sút cân, đau đầu và một số triệu
chứng khác.
Viêm amidan gây biến chứng gì?
Áp-xe quanh amidan: Trường hợp viêm amidan nhiều lần thường dẫn đến áp-xe quanh
amidan. Bệnh nhân đau họng, khó nuốt, sưng họng nói không ra tiếng, đau đầu,
sốt cao, hơi thở hôi, chảy nước dãi, do không nuốt được.
Do
độc tố của liên cầu khuẩn gây ra, bệnh nhân nổi ban, nổi hạch, đau họng, nhức
đầu, ói mửa, sốt cao, amidan sưng to, họng đỏ, lưỡi đỏ, nhịp tim nhanh. Có
trường hợp bệnh nhân bị biến chứng viêm màng ngoài tim cấp, viêm cơ tim, viêm
nội mạc tim, biến chứng viêm tai giữa...
Viêm khớp cấp: Bệnh nhân bị các triệu chứng sưng, nóng, đỏ đau các khớp cổ tay,
đầu gối, các ngón tay, ngón chân, người mệt mỏi, uể oải. Sau biến chứng viêm
khớp thường dẫn đến bệnh lý màng tim.
Viêm cầu thận: Khả năng bị viêm cầu thận sau viêm amidan và chuyển thành viêm
thận cấp sau đó là đáng lo ngại. Bệnh nhân có hiện tượng phù chân, phù mặt nhất
là khi ngủ dậy.
Rối loạn nhịp thở khi ngủ: Biến chứng từ amidan phì đại gây rối loạn nhịp thở. Nếu
đồng thời có triệu chứng bệnh VA phì đại sẽ xuất hiện triệu chứng ngủ ngáy,
nghiêm trọng có thể gây tình trạng thiếu ôxy gây ngạt thở, ngủ không yên giấc.
Không cứ viêm amidan là phải cắt
Không
ít trường hợp thấy con bị viêm amidan vài lần là cha mẹ đến bác sĩ đòi cắt để
khỏi bị viêm. Quan niệm này sai lầm hoàn toàn. Thực tế, chỉ định cắt amidan là
rất hạn chế sau khi các bác sĩ khám phá ra các lợi ích của amidan đối với cơ
thể trẻ em. Số các cháu viêm amidan nhẹ rất nhiều và không cần thiết phải cắt.
Chỉ các em bị viêm nhiễm nhiều, amidan hoàn toàn không còn lợi ích cho cơ thể,
mới nghĩ đến cắt bỏ. Khi bị viêm amidan người bệnh cần đến bệnh viện để được
các bác sĩ chuyên khoa điều trị đúng cách hoặc chỉ định cắt amiđan nếu cần
thiết.
Lưu ý: Cắt amidan có thể gây biến chứng tử vong do nhiều nguyên nhân:
gây mê, cắt không đúng kỹ thuật (cắt chạm mạch máu gây chảy máu, không cầm
được), bệnh nhân có rối loạn đông máu. Chính vì vậy mà trước khi cắt, bệnh nhân
phải được làm các xét nghiệm rất kỹ về các chức năng gan, thận và đông máu để
tránh những tai biến đáng tiếc xảy ra. Nếu có chỉ định, bệnh nhân nên phẫu
thuật tại các bệnh viện có chuyên khoa tai mũi họng, không nên đến phẫu thuật ở
phòng mạch tư, rất dễ gặp sự cố.
Sau
phẫu thuật phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn uống và vệ sinh răng miệng. Sau
cắt amidan từ 7-10 ngày nếu có chảy máu, cần đến bệnh viện để bác sĩ kiểm tra
và xử trí kịp thời. Trẻ dưới 5 tuổi và người lớn trên 45 tuổi nên hạn chế cắt
amiđan, bởi trẻ dưới 5 tuổi cắt amidan có thể ảnh hưởng khả năng miễn dịch, còn
người trên 45 tuổi cắt amidan dễ bị chảy máu do amidan xơ dính hoặc có các bệnh
khác kèm theo như tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường...